Mức hưởng chế độ thai sản
1.
Mức hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như sau:
a)
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ
thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền
kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội không liên
tục thì được cộng dồn.
Trường
hợp lao động nữ đi làm cho đến thời điểm sinh con mà tháng sinh con hoặc nhận
nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận
nuôi con nuôi thì mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
tháng trước khi nghỉ việc, bao gồm cả tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Ví
dụ 16: Chị C sinh con vào ngày 16/3/2016, có quá trình đóng bảo hiểm xã hội như
sau:
-
Từ tháng 10/2015 đến tháng 01/2016 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương
5.000.000 đồng/tháng;
-
Từ tháng 02/2016 đến tháng 3/2016 (2 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương
6.500.000 đồng/tháng.
Mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi
nghỉ việc của chị C được tính như sau:
|
Mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi
nghỉ việc
|
=
|
(5.000.000 x 4) + (6.500.000 x 2)
|
|
6
|
||
|
|
=
|
5.500.000 (đồng/tháng)
|
Như
vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề
trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị C là 5.500.000
đồng/tháng.
Ví
dụ 17: Chị D sinh con ngày 13/5/2017 (thuộc trường hợp khi mang thai phải nghỉ
việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền),
có quá trình đóng bảo hiểm xã hội như sau:
-
Từ tháng 5/2014 đến tháng 4/2016 (24 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương
8.500.000 đồng/tháng;
-
Từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương
7.000.000 đồng/tháng;
-
Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 (8 tháng), nghỉ dưỡng thai, không đóng bảo hiểm
xã hội.
Mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi
nghỉ việc của chị D được tính như sau:
|
Mức
bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi
nghỉ việc
|
=
|
(7.000.000 x 4) + (8.500.000 x 2)
|
|
6
|
||
|
|
=
|
7.500.000 (đồng/tháng)
|
Như
vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề
trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị D là
7.500.000 đồng/tháng.
b)
Đối với trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật
bảo hiểm xã hội ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội
thì mức hưởng chế độ thai sản được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo
hiểm xã hội của chính tháng đó.
2.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong
tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản
2 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội được hướng dẫn như sau:
a)
Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc
đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội,
thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được
tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
b)
Thời gian hưởng chế độ thai sản của người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp
đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới
06 tháng tuổi quy định tại khoản 4 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã
hội không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
c)
Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định
thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết
thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, kể từ thời điểm
đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con thì lao động nữ vẫn được hưởng chế
độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản
3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội nhưng người lao động và người sử dụng
lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
d)
Trường hợp người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng, người mẹ nhờ mang thai hộ,
người cha nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản
mà không nghỉ việc thì người lao động và người sử dụng lao động vẫn phải đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
3.
Mức hưởng chế độ thai sản của người lao động không được điều chỉnh khi Chính phủ
điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng.
4.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm
xã hội quy định tại khoản 2 Điều này, được ghi theo mức tiền lương đóng bảo hiểm
xã hội của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp trong thời
gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động được nâng lương thì được
ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời điểm được nâng lương.
Người
lao động đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên
nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ
số 0,7 trở lên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét